Cổng thông tin điện tử huyện Giồng Riềng

Sự kiện nổi bật

Xem với cỡ chữAA

Một số kết quả nổi bật hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ huyện

(10:43 | 16/08/2019)

 Qua hơn 03 năm thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo, đề ra nhiều biện pháp cụ thể, trọng tâm trên từng lĩnh vực và dồn sức lãnh đạo thực hiện, qua đó đạt nhiều kết quả nổi bật và toàn diện trên các lĩnh vực, với hầu hết các chi tiêu đều đạt và vượt tiến bộ so Nghị quyết đề ra. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất tăng bình quân hằng năm 8,34% (NQ 7,8% trở lên); thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 47,079 triệu đồng (Giá hiện hành) tương đương 2.068 USD, đạt 68,9% Nghị quyết (NQ 3.000 USD). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đến cuối năm 2018 khu vực nông - lâm - thủy sản tỷ trọng giảm còn 43,83% (NQ 44,70), công nghiệp - xây dựng tăng lên 15,17% (NQ 16,60), dịch vụ - thương mại tăng lên 41% (NQ 38,70). Về nông nghiệp, có bước chuyển biến tích cực, thực hiện cơ giới hóa hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ sát hợp hơn với từng địa bàn. Thực hiện mô hình sản xuất đa canh tổng hợp, trên địa bàn huyện hiện có 13 loại mô hình có hiệu quả kinh tế cao, tổng diện tích 2.456 ha. Kết quả thu nhập bình quân của mỗi mô hình từ 83 triệu đến 250 triệu đồng/ha/năm. Diện tích trồng rau đậu các loại phát triển mạnh. 

 

anh TBVK tinh 1.jpg
Đ/c Đặng Tuyết Em, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu tại buổi làm việc với Ban thường vụ Huyện ủy Giồng Riềng về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ huyện
 

Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được các cấp ủy Đảng, Mặt trận, đoàn thể và chính quyền các cấp quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện quyết liệt, đạt yêu cầu đề ra. Kết quả đến nay đã có 15/18 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 83,3% (NQ 80%), 3 xã còn lại dự kiến đến cuối năm 2019 sẽ đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới; huyện cơ bản đạt 7/9 tiêu chí huyện nông thôn mới; thị trấn Giồng Riềng đạt 42/51 tiêu chí đô thị loại IV. Lộ giao thông nông thôn, tuyến từ huyện về xã đã có mặt đường láng nhựa và bê tông xi măng đi được xe 4 bánh 19/19 xã, thị trấn. Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch dự toán. Qua hơn 03 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội, tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện được 2.886 tỷ đồng đạt 63,7%.

Tỷ lệ huy động học sinh từ 6-14 tuổi đến trường hằng năm đạt 99,14% (NQ 99%), trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% (Nghị quyết 99%). Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi vào học ở các trường mầm non, nhà trẻ đạt 55,75% (NQ 65%); có 49/83 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 16 trường so với đầu nhiệm kỳ. Thực hiện tốt các chương trình, mục tiêu quốc gia về y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường nên không để xảy ra ngộ độc thực phẩm hay dịch bệnh trên người. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 87,04% so với tổng dân số (NQ 80%). Hộ sử dụng điện đạt 99% (NQ 98%); nước hợp vệ sinh đạt 95,5% (NQ 95%). Thực hiện mô hình “Thắp sáng đường quê” đến nay thực hiện trên 200.000 mét; mô hình “Đoạn đường đẹp” thực hiện gần 90.000 mét ở 19 xã, thị trấn.  Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, có bước phát triển và đi vào chiều sâu. Có 15/18 xã đạt xã văn hóa nông thôn mới, Thị trấn đạt văn minh đô thị. Các chính sách người có công và an sinh xã hội được quan tâm chỉ đạo và thực hiện đầy đủ, kịp thời. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 53,64% (NQ 60% trở lên). Công tác giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo thực hiện với nhiều biện pháp đồng bộ, giảm hộ nghèo từ 9,95% xuống còn 3,65% (NQ 2%)

Tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giải quyết tình hình tệ nạn xã hội được tăng cường, đảm bảo an toàn các ngày lễ, tết và sự kiện quan trọng của đất nước, địa phương. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, tai nạn giao thông cơ bản được kiềm chế và giảm so với trước (giảm 12 vụ so cùng kỳ)

Trong lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính có nhiều đổi mới, sáng tạo trong cụ thể hóa, vận dụng thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp trên; đổi mới mạnh mẽ phong cách, lề lối làm việc; giảm hội họp, gần dân, sát dân, thường xuyên gặp gỡ lắng nghe, đối thoại, giải quyết các phản ánh, kiến nghị bức xúc của nhân dân. Thực hiện dân chủ công khai, minh bạch trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; tập trung khắc phục các hạn chế, yếu kém, củng cố nâng lên chất lượng, hiệu quả sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ cơ sở; đề ra được quy trình nhận diện các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, việc thực hiện nêu gương đối với đảng viên hằng tháng, qua đó biểu dương, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm; thực hiện tốt các mô hình đã đăng ký theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII và Nghị quyết 77 của HĐND tỉnh được các cấp ủy Đảng và chính quyền, đoàn thể thực hiện nghiêm túc, đúng theo kế hoạch. Huyện đã thực hiện mô hình Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy đồng thời là Giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện; Trưởng Ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban MTTQ huyện; Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND xã, thực hiện 07/19 xã, thị trấn. Bố trí sắp xếp được 211/209 chức danh xã, thị đạt 99,5%; có 19/19 xã, thị bố trí 11 người trở xuống; đối với ấp, khu phố bố trí sắp xếp được 751 chức danh (chỉ tiêu 768).

Công tác phát triển đảng viên thực hiện khá tốt, từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã kết nạp 1.468/1500 đảng viên, đạt 97,86% so với Nghị quyết Đại hội (tính cả chỉ tiêu tỉnh giao thêm đạt 88,9%). Hiện nay toàn huyện có 6.022 đảng viên, chiếm 2,61% so với dân số (NQ 2,6%).

Hiệu quả quản lý, điều hành của UBND 2 cấp được nâng lên và đạt nhiều kết quả, nhất là quyết liệt trong xây dựng nông thôn mới; thực hiện nghiêm Luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm. Thu ngân sách hằng năm đạt và vượt kế hoạch; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thu, chi theo kế hoạch. Điều hành xây dựng cơ bản chặt chẽ, bảo đảm khối lượng, chất lượng công trình đưa vào sử dụng.

Triển khai thực hiện tốt Chương trình Dân vận toàn khóa và hằng năm; xem cơ sở là địa bàn chủ yếu để lãnh đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ; tăng cường tổ chức gặp gỡ, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc với nhân dân, đoàn viên, hội viên; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc kế hoạch giám sát, phản biện xã hội theo kế hoạch. Công tác dân vận, nổi bật là vận động nhân dân tham gia phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, xây dựng mô hình kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, xây dựng GTNT, thắp sáng đường quê, đoạn đường đẹp, giúp đỡ người nghèo, thi đua lao động sáng tạo trong công tác... được thực hiện có hiệu quả, tạo thêm khí thế mới trong xây dựng và phát triển địa phương. Hiện toàn huyện có 956 mô hình tập thể, 216 điển hình cá nhân đang hoạt động. Thông qua các phong trào đã phát triển 15.786 đoàn viên, hội viên, cùng với việc rà soát, sàng lọc, củng cố đoàn viên, hội viên, hiện toàn huyện có 75.418 đoàn viên, hội viên, trong đó có mặt tại địa phương 64.137 người, chiếm 56,78% so đối tượng có mặt tại địa phương.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo tiếp tục giữ vững ổn định. Công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được thực hiện khá tốt. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer giảm từ 19,48% (năm 2015) xuống còn 7,05%. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng theo pháp luật.

Trần Văn Vũ - Văn phòng Huyện ủy