Cổng thông tin điện tử huyện Giồng Riềng

Cải cách hành chính

Xem với cỡ chữAA

Tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 trên địa bàn huyện Giồng Riềng

(09:45 | 21/05/2020)

Thực hiện Kế hoạch số 21/KH-UBND ngày 17 tháng 02 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổng kết thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, định hướng giai đoạn 2021 - 2030 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng đã tổng kết thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, định hướng giai đoạn 2021 - 2030.

Trong giai đoạn 2011-2020, Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh và huyện về cải cách hành chính được 12 cuộc có 631 lượt người tham dự, thành phần, gồm: Thường trực Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, UB.MTTQ huyện, Thủ trưởng ban ngành đoàn thể cấp huyện; Chủ tịch  Ủy ban nhân dân, công chức Văn phòng - Thống kê, các xã, thị trấn; các cơ quan ban ngành đoàn thể cấp huyện tổ chức 71 cuộc có 1.009 lượt người tham dự;  Ủy ban nhân dân các xã, thị tổ chức triển khai trong nội bộ 133 cuộc có 2.651 lượt người tham dự; tuyên truyền ra dân thông qua ấp, khu phố và tổ NDTQ được 2.091 cuộc có 40.267 lượt người dự.

Qua thực hiện nhiệm vụ CCHC, Chỉ số CCHC của các cơ quan, đơn vị được nâng lên từng bước. Năm 2017, có 06 xã xếp loại yếu, 03 xã trung bình, 08 xã khá và 02 xã tốt; năm 2018, không có xã loại yếu, 04 xã trung bình, 06 xã khá, 08 xã tốt và 01 xã xuất sắc được biểu dương khen thưởng.

Song song với Chỉ số CCHC được nâng lên, các mô hình, sáng kiến giải pháp về thực hiện CCHC cũng được duy trì hàng năm. Đã có 20 sáng kiến, giải pháp trong công tác cải cách hành chính được Ủy ban nhân dân huyện công nhận và phát huy hiệu quả.

Hàng năm, Ủy ban nhân dân huyện có ban hành kế hoạch kiểm tra công tác CCHC và thành lập Tổ kiểm tra, việc thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở các xã, thị và một số cơ quan chuyên môn thuộc huyện. Cụ thể, đã tổ chức 09 cuộc có 83 đơn vị, trong đó: 71 lượt xã, thị và 12 cơ quan chuyên môn huyện, ngoài ra còn phúc tra sau kiểm tra 04 xã, thị trấn. Nhằm đánh giá thực tế tình hình thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa trên địa bàn, giúp  Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo, chấn chỉnh kịp thời đối với lĩnh vực công tác này.

Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch của UBND tỉnh và Kế hoạch của  Ủy ban nhân dân huyện, về công tác CCHC hàng năm; quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cho các tổ chức và công dân biết để quan hệ làm việc. Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền bằng băng rôn, pa nô các khẩu hiệu về CCHC. Mỗi bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chọn 01 khẩu hiệu tuyên truyền về 01 trong các nội dung của CCHC. Trang thông tin điện tử của huyện thường xuyên cập nhật và đăng tải các tin tức tình hình phát triển kinh tế-xã hội của huyện, trong đó đăng 131 tin, bài về CCHC. Văn phòng HĐND-UBND huyện và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn lựa chọn và treo 24 khẩu hiệu tuyên truyền về CCHC. Hàng năm, ký kết hợp đồng với Đài Truyền thanh huyện xây dựng chuyên mục tuyên truyền về CCHC năm trên sóng phát thanh huyện (01 chuyên mục/01 tuần). Tính đến nay, đã phát sóng được 70 chuyên mục.

Đến nay, về cơ bản công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL trên địa bàn huyện Giồng Riềng đã hoàn thành 100% theo kế hoạch. Hội đồng nhân dân huyện ban hành 07 VBQPPL (Nghị quyết), Ủy ban nhân dân huyện ban hành 04 VBQPPL (Quyết định). Nhìn chung, công tác ban hành VBQPPL có nhiều tiến bộ, cơ bản đúng thể thức, kỷ thuật, nội dung, thẩm quyền, cơ sở pháp lý và thời gian theo quy định.

Công tác cập nhật và công khai, niêm yết TTHC được công khai đầy đủ, kịp thời. Hiện nay, TTHC áp dụng trên địa huyện là 476 thủ tục, trong đó: huyện 346 thủ tục và cấp xã 130 thủ tục. Các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của huyện được công khai trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và trên trang website của huyện. Thủ tục liên thông 3 trong 1 áp dụng tại cấp xã 01 thủ tục kết hợp, gồm: Đăng ký khai sinh, nhập hộ khẩu và bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Công khai đầy đủ 346/346 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết trên website của UBND huyện, trong đó có 313/346 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện tại Bộ phận một cửa, đạt 90,46%. Ngoài ra, Bộ phận một cửa đã tích hợp phần mềm hệ thống thông tin chính quyền điện tử của tỉnh vào giải quyết và tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận một cửa.

UBND huyện ban hành Kế hoạch số 79/KH-UBND ngày 01/6/2018 của Ủy ban nhân dân huyện về thực hiện Kế hoạch số 73-KH/HU ngày 13 tháng 3 năm 2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Giồng Riềng thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 19/6/2018 của UBND huyện về triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện. Đã giải thể 02 cơ quan chuyên môn huyện: Phòng Y tế và Phòng Dân tộc theo Nghị quyết của HĐND huyện. Hiện nay, huyện còn 11 cơ quan chuyên môn; 04 đơn vị sự nghiệp trực thuộc huyện do tỉnh giao biên chế (Ban đại diện Người cao tuổi, Hội Chữ thập đỏ, Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thanh, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên); 03 đơn vị sự nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm, do tỉnh không giao biên chế (Ban Quản lý các dự án đầu tư và xây dựng, Ban Quản lý Công trình công cộng, Ban điều hành bến xe tàu), giảm 01 đơn vị Trung  tâm tư vấn dịch vụ xây dựng (do giải thể) và 75 đơn vị trường học trực thuộc Phòng Giáo dục-Đào tạo (giảm 08 trường tiểu học). Huyện Giồng Riềng hiện có 18 xã và 01 thị trấn, được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận 12 xã, thị trấn loại I và 07 xã loại II.

Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng xây dựng Đề án số 01/ĐA-UBND ngày 19 tháng 10 năm 2015 về tinh giản biên chế giai đoạn 2015-2021 theo quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ; Đề án tinh giản biên chế của Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang phê duyệt tại Quyết định số 1042/QĐ-UBND ngày 06/5/2016. Từ năm 2015 đến nay, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định tinh giản biên chế cho 102 trường hợp theo quy định, trong đó: 02 công chức huyện, 80 viên chức và 20 cán bộ, công chức cấp xã. Ngoài ra, tỉnh đã cắt giảm 228 biên chế, trong đó: công chức hành chính 08, 184 người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và 36 công chức cấp xã theo Nghị định số 34/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Tổng số đã thực hiện tinh giảm 330/315, đạt 10,48%.

Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và kéo dài thời gian đến tuổi nghỉ hưu cho 457 trường hợp, trong đó: công chức hành chính 122 lượt và 335 lượt quản lý trường học. Không bổ nhiệm lại và cho từ chức 16 trường hợp. Điều động 389 lượt công chức, viên chức; cho nghỉ hưu 173 cán bộ, công chức, viên chức; cho thôi việc, nghỉ việc 131 cán bộ, công chức, viên chức; xử lý kỷ luật 114 cán bộ, công chức, viên chức vi phạm.

Thực hiện Quyết định số 1010/QĐ-UBND ngày 04/5/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý, sử dụng chứng thư số và chữ ký số trong các cơ quan nhà nước trên địa tỉnh Kiên Giang. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 30 cơ quan, đơn vị được áp dụng chữ ký số (11 cơ quan chuyên môn thuộc huyện và 19 xã, thị trấn). Có 11/11 cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện và 19/19 xã, thị trấn sử dụng phần mềm quản lý văn bản; tỷ lệ trao đổi văn bản dưới dạng điện tử giữa các cơ quan nhà nước đạt từ 95% trở lên; hiện trạng kết nối giữa các hệ thống quản lý văn bản và điều hành và với Trục liên thông văn bản quốc gia tốt, đảm bảo kịp thời, nhanh.

Nhìn chung, thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước trên địa bàn huyện đã từng bước ổn định, đi vào chiều sâu và có hiệu quả; cán bộ và Nhân dân đã từng bước nâng cao nhận thức, đồng tình thực hiện chủ trương đúng đắn của Chính phủ và của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với công tác CCHC, nhất là cải cách TTHC theo cơ chế một cửa; công tác rà soát, xử lý và ban hành văn bản quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện, của các ngành và các xã, thị ngày càng chặt chẽ hơn; công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ từng bước được chuẩn hóa; việc quản lý tài sản, tài chính công của nhà nước ở các cơ quan, đơn vị được đảm bảo thực hiện tốt; công tác CCHC theo cơ chế một cửa cơ bản đi vào nề nếp, các TTHC, phí-lệ phí được niêm yết công khai; đi đôi với việc thực hiện cải cách TTHC là việc thực hiện công nghệ thông tin đã từng bước được ổn định và thực hiện có hiệu quả.

Tiếp tục duy trì việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001:2015 đối với các cơ quan chuyên môn thuộc huyện và các xã, thị trấn nhằm nâng cao chất lượng giải quyết công việc hành chính có liên quan đến tổ chức và công dân.

            Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một số ngành, xã, thị trấn chưa thực sự quyết liệt trong chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ CCHC; thiếu quan tâm kiểm tra, đôn đốc nên hiệu quả còn hạn chế; xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ CCHC hàng năm còn chậm, thiếu nội dung và xác định nhiệm vụ CCHC còn chung chung chưa có định lượng cụ thể; công tác bố trí, quản lý, phân công công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả một số xã thiếu ổn định làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Chế độ thỉnh thị, báo cáo của một số ngành và xã, thị trấn chưa thường xuyên và chưa kịp thời theo quy định; tỷ lệ TTHC đưa vào một cửa còn thấp (nhất là ở cấp xã). Chưa ghi đầy đủ thông tin theo quy định vào Sổ theo dõi giải quyết TTHC. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO tại xã chưa được quan tâm cập nhật kịp thời; một số ngành, xã, thị niêm yết các mẫu biểu, thủ tục, quy trình, thu phí, lệ phí…chưa tốt, còn sơ sài, hình thức; các mẫu biểu, thủ tục chưa được cập nhật, thay thế kịp thời.

            Cơ sở vật chất, trang thiết bị một số nơi còn thiếu, chỗ nơi làm việc chật hẹp, chưa đảm bảo sự tiện lợi cho tổ chức, cá nhân đến liên hệ làm việc; trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ của một số công chức bộ phận tiếp nhận và trả kết quả xã, thị còn hạn chế, nên việc thực hiện nhiệm vụ và tham mưu cho lãnh đạo còn gặp khó khăn. Giải quyết một số TTHC còn chậm, gây phiền hà nhân dân, nhất là lĩnh vực đất đai.

Nguyên nhân tồn tại, hạn chế, đó là:

Những hạn chế yếu kém trên là do huyện có địa bàn rộng, đông dân cư, chất lượng nguồn nhân lực thấp. Chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức còn chưa sát thực tiễn, chưa đảm bảo cho cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức an tâm công tác, nhất là đối với cán bộ cơ sở chưa đủ sức thu hút người có trình độ về công tác; chế độ giữa cán bộ chuyên trách, công chức với người hoạt động không chuyên trách cấp xã còn bất hợp lý.

Một số cấp ủy đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nhận thức đúng ý nghĩa của việc thực hiện công tác CCHC, chưa khơi dậy và phát huy được tính năng động, sáng tạo trong việc thực hiện các nội dung về CCHC. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa làm hết thẩm quyền và trách nhiệm, chưa kiên quyết trong công tác xây dựng tổ chức, bộ máy, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thiếu quyết liệt trong chỉ đạo tinh giản biên chế. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức tinh thần trách nhiệm không cao; ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương hành chính thực hiện chưa nghiêm; phương pháp, lề lối làm việc chậm đổi mới; trình độ, năng lực thực tiễn còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

            Từ việc thực hiện Chương trình cải cách hành chính trong giai đoạn qua, huyện Giồng Riềng đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như:

Một là, tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, thường xuyên sâu rộng đến cán bộ và Nhân dân; thực hiện tốt việc niêm yết công khai và đầy đủ các loại thủ tục, quy trình, mẫu biểu, phí, lệ phí…

Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan hành chính các cấp có phẩm chất đạo đức, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, có tính chuyên nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị là nhân tố quyết định đến sự thành công của công tác cải cách hành chính.

            Ba là, cán bộ, công chức phải có tinh thần, thái độ phục vụ tốt trong thực thi công vụ. Công chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trực đầy đủ, thường xuyên và ra phiếu hẹn (tùy lĩnh vực), trả kết quả đúng theo quy trình, quy chế theo đề án.

            Bốn là, trong lãnh đạo, chỉ đạo phải bám sát chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị mình. Quan tâm đúng mức tới công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Tuyển dụng, bố trí cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với trình độ đào tạo, vị trí việc làm đảm bảo công khai, minh bạch và đúng quy định. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; tinh giản bộ máy, biên chế theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả phải theo lộ trình, và đảm bảo đúng thực chất. Kiểm điểm, xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ được giao, gây khó khăn, sách nhiễu và có biểu hiện tiêu cực trong thực thi công vụ, nhằm răn đe, hạn chế tiêu cực trong thực hiện. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân tích cực trong công tác và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nhằm khích lệ tinh thần trong thi hành công vụ ngày càng tốt hơn.       

            Đối với thực hiện Chương trình tổng thể giai đoạn 2021 – 2030, huyện Giồng Riềng tập trung các nội dung sau:

Về cải cách thể chế

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và thi hành các VBQPPL trên địa bàn huyện, trọng tâm là nâng cao chất lượng công tác xây dựng các VBQPPL đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, cụ thể và khả thi.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện khai thông nguồn lực, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tiềm năng; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng có hiệu quả nguồn lực và tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia cung ứng dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh.

Rà soát, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các VBQPPL đảm bảo phù hợp với quy định của Trung ương, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý điều hành của địa phương.

Nâng cao chất lượng kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, đặc biệt tập trung vào việc rà soát các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện ban hành.

Về cải cách thủ tục hành chính

Công bố kịp thời, đúng quy định TTHC áp dụng trên địa bàn huyện, xã, thị; công khai đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử và tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; 100% các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước trên địa bàn huyện phải được thực hiện liên thông; có ít nhất 70% TTHC được cung cấp dưới dạng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; tối thiểu 50% hồ sơ TTHC được tiếp nhận, giải quyết trực tuyến ở mức độ 4; 100% cơ quan hành chính nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân huyện quản lý cán bộ, công chức, viên chức bằng phần mềm điện tử; 100% Ủy ban nhân dân cấp xã được triển khai phần mềm một cửa điện tử liên thông giữa cấp xã với cấp huyện.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi bổ sung tiến tới xoá bỏ hoàn toàn các TTHC rườm rà, gây phiền hà cho tổ chức và cá nhân; hoàn thiện các TTHC mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho người dân, tạo môi trường và hành lang pháp lý thông thoáng cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư.

Tăng cường đối thoại giữa lãnh đạo các cấp với tổ chức, cá nhân về TTHC, đặc biệt là TTHC liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường; phân bổ ngân sách, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản; đầu tư nước ngoài; xuất nhập khẩu; thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép xây dựng và cấp giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất...

Định kỳ tổ chức khảo sát, điều tra sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với các TTHC, để có kế hoạch chủ động khắc phục những tồn tại, hạn chế.

Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính

Rà soát, kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức bộ máy; tinh giản biên chế; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quy chế tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị đảm bảo đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả trên cơ sở các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Thống nhất quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.

Cải cách chế độ công vụ, công chức gắn với việc thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến năm 2030, phù hợp với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhằm xây dựng một nền công vụ “Chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”.

Triển khai thực hiện Đề án tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ. Rà soát, phân loại, xếp hạng các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập. Tiếp tục giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; nghiên cứu, chuyển đổi mô hình các đơn vị sự nghiệp công lập sang mô hình doanh nghiệp.

Tổ chức triển khai Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, các Bộ (Nghị định, Thông tư hướng dẫn) thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương (liên quan đến tổ chức, bộ máy Ủy ban nhân dân các cấp và số lượng Phó Chủ tịch và thành viên Ủy ban nhân dân).

Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

            Tiến hành điều tra, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức; quy hoạch; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức để từng bước chuyển sang quản lý cán bộ, công chức, viên chức bằng phần mềm điện tử ở các cơ quan hành chính nhà nước.

            Thực hiện chế độ tuyển dụng cạnh tranh, bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp vị trí việc làm và trình độ, năng lực của công chức, viên chức trúng tuyển; cơ chế thi tuyển phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, chọn đúng người, đủ tiêu chuẩn vào bộ máy nhà nước. Nhân rộng mô hình bổ nhiệm công chức, viên chức thông qua hình thức thi tuyển đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định.

            Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, mạnh dạn đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức không đủ năng lực, trình độ, những người vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tạo điều kiện đổi mới, trẻ hóa, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức.

Đến năm 2030, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân; phấn đấu 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ.

Về cải cách tài chính công

Bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả các khoản chi tài chính của khu vực công. Chuyển đổi mô hình và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp theo hướng giảm dần việc hỗ trợ từ ngân sách cho các nhiệm vụ mà doanh nghiệp, xã hội có thể đảm đương được.

Đẩy mạnh thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí đối với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập. Đến năm 2030, 100% các sự nghiệp dịch vụ công được thực hiện xã hội hóa theo chủ trương của Trung ương, của tỉnh; 100% các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập trên địa bàn huyện thực hiện chuyển đổi cơ chế. 

Đẩy mạnh xã hội hóa một số dịch vụ công theo chủ trương của Trung ương, của tỉnh trên các lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao… Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các đơn vị sự nghiệp công lập, từng bước tăng thu từ hoạt động sự nghiệp, giảm chi từ ngân sách nhà nước.

Về hiện đại hóa hành chính

Chỉ đạo thực hiện đồng bộ giữa CCHC với ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 trong các cơ quan hành chính nhà nước trong tỉnh. Thực hiện hoàn thành việc xây dựng, triển khai mô hình Chính quyền điện tử.

Phát triển hạ tầng CNTT đảm bảo kết nối thông tin giữa các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh được thông suốt, an toàn, bảo mật; trang bị phương tiện, máy móc, thiết bị CNTT đảm bảo việc ứng dụng vào các hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước. Nâng cấp Cổng thông tin điện tử của huyện và các Trang thông tin điện tử của các ngành, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn nhằm cung cấp kịp thời thông tin, TTHC và các dịch vụ công cho người dân, tổ chức.

Triển khai các phần mềm quản lý chuyên ngành thông suốt theo hệ thống từ tỉnh tới cơ sở, phấn đấu xây dựng hoàn chỉnh môi trường làm việc, trao đổi và tác nghiệp trực tuyến qua mạng máy tính trong tất cả các cơ quan nhà nước; xây dựng chính quyền điện tử của địa phương đạt mức khá; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 trên diện rộng; tỷ lệ cán bộ, công chức sử dụng hộp thư điện tử trong công việc đạt 100%; tỷ lệ văn bản, tài liệu chính thức giữa các cơ quan nhà nước được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử tại cấp huyện đạt 100% và cấp xã đạt 100%; tỷ lệ các ngành và Ủy ban nhân dân cấp xã triển khai hệ thống phần mềm một cửa điện tử đạt 100%.

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 vào hoạt động trong các cơ quan nhà nước; các TTHC áp dụng phần mềm Một cửa điện tử phải kết hợp với quy trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO (ISO điện tử).

            Triển khai hoàn thành kế hoạch đầu tư xây dựng Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đến năm 2025 cấp xã đạt 100%.

Đào Thanh Trang - Trưởng phòng Nội vụ